THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM

Bán nhà hơn 11 tỷ nhưng kê khai 1,5 tỷ, 6 năm sau bị kiến nghị truy thu thuế

Đang ly thân, người vợ cho rằng bị ép ký tặng chồng nửa căn nhà

Theo trình bày của bà H. (ngụ TPHCM), bà và ông N. là vợ chồng nhưng sống ly thân, con gái chung của hai người sống cùng ông N. Hai người còn có tài sản chung là căn nhà 176m2 tại TPHCM.

Bà H. cho biết vào tháng 3/2016, ông N. đã đưa con gái đi khỏi nơi cư trú và không cho bà biết tung tích. Ông yêu cầu bà phải ký hợp đồng tặng cho quyền sở hữu một nửa căn nhà thì mới được gặp con gái.

Sau đó, bà H. và ông N. đến văn phòng công chứng ký hợp đồng tặng cho. Tuy nhiên, theo bà H., sau khi bà ký xong, ông N. vẫn không cho gặp con nên bà cho rằng mình bị lừa dối và ép buộc khi xác lập giao dịch.

Ảnh minh họa: Anh Phương

Từ đó, bà khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho căn nhà đã ký với ông N. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, bà H. còn yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận vay tiền lập tại văn phòng thừa phát lại.

Trong khi đó, ông N. cho rằng việc ký hợp đồng tặng cho được bà H. thực hiện hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật. Ông N. đã hoàn tất thủ tục sang tên vào tháng 6/2016, qua đó giao dịch đã được thực hiện trên thực tế. Ông khẳng định không có hành vi lừa dối hay ép buộc bà H. khi giao kết hợp đồng.

Đầu năm 2019, ông N. tiếp tục chuyển nhượng căn nhà cho bà C. với giá 11,5 tỷ đồng. Theo bà C., bà đã thanh toán đủ tiền, nhận bàn giao nhà ngay sau khi ký hợp đồng và sử dụng căn nhà ổn định từ đó đến nay.

Bán nhà 11,5 tỷ nhưng ghi hợp đồng chỉ 1,5 tỷ đồng

Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử TAND quận Bình Thạnh (nay là TAND khu vực 5 – TPHCM) nhận định không có đủ căn cứ chứng minh việc bà H. bị ép buộc hoặc bị lừa dối khi ký hợp đồng tặng cho tài sản. Tòa tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.

Đồng thời, tòa chấp nhận yêu cầu độc lập của bà C., công nhận hợp đồng chuyển nhượng nhà đất ký năm 2019 giữa bà và ông N. có hiệu lực.

Theo bản án, bà C. được quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp căn nhà và có quyền liên hệ cơ quan chức năng để hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận.

Không đồng ý với phán quyết trên, bà H. kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, bà H. cho rằng việc bà ký hợp đồng tặng cho một nửa căn nhà là do bị ông N. ép buộc về tinh thần, tương tự hành vi bắt cóc con gái để ép bà ký.

Cùng ngày ký hợp đồng tặng cho, hai người còn lập giấy vay tiền tại văn phòng thừa phát lại với nội dung ông N. vay của bà 500 triệu đồng và 44 lượng vàng SJC, tương đương một nửa giá trị căn nhà. Bà cho rằng đây là giao dịch giả cách nhằm che giấu bản chất của việc chuyển giao quyền sở hữu căn nhà.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử TAND TPHCM nhận định bà H. không đưa ra được chứng cứ chứng minh ông N. có hành vi bắt cóc con hoặc cưỡng ép bà ký hợp đồng.

Hồ sơ vụ án thể hiện trước đó bà H. từng đồng ý giao con cho ông N. trực tiếp nuôi dưỡng. Sau này, trong vụ án ly hôn giữa hai bên, tòa án cũng đã công nhận thỏa thuận giao con chung cho ông N. chăm sóc. Do đó, bà H. cho rằng ông N. có hành vi bắt cóc để gây sức ép, buộc bà H. phải ký hợp đồng tặng cho nhà và quyền sử dụng đất ở vào tháng 3/2016 là không có căn cứ.

Đối với hợp đồng tặng cho căn nhà, tòa xác định giao dịch được lập đúng hình thức, có công chứng hợp pháp, bà H. ký kết trong trạng thái minh mẫn và tự nguyện. Sau khi ký hợp đồng, ông N. đã hoàn tất thủ tục sang tên vào tháng 6/2016 nên giao dịch phát sinh hiệu lực pháp luật.

Liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng căn nhà cho bà C. năm 2019, tòa phúc thẩm cũng xác định giao dịch này hợp pháp.

Đại diện bà C. cho biết giá thực tế mua bán là hơn 8,27 tỷ đồng, dù hợp đồng công chứng chỉ ghi 1,5 tỷ đồng theo đề nghị của ông N. nhằm né thuế. Tuy nhiên, tại phiên sơ thẩm, bà C. lại khai giá thực tế giao dịch là 11,5 tỷ đồng.

Từ tình tiết này, tòa phúc thẩm kiến nghị cơ quan thuế xem xét truy thu thuế thu nhập cá nhân đối với ông N. theo giá trị chuyển nhượng thực tế. Đồng thời, tòa tuyên giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm, bác kháng cáo của bà H.

(Tham khảo Bản án số 749/2025/DS-PT ngày 11/7/2025 của TAND TPHCM)


Nguồn

Exit mobile version