THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM

Bà nội mất không để lại di chúc, cháu đích tôn tự kê khai sổ đỏ gần 800m2 đất

Anh em ruột tranh chấp đất thừa kế của bà nội

Theo trình bày của ông B. (ngụ TP Đà Nẵng), sau khi ông nội mất, bà nội của ông trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất 771m2 tại Đà Nẵng do bà khai phá, quản lý và sử dụng.

Cha của ông B. (là con trai duy nhất của ông bà nội) đã mất từ năm 1963. Đến năm 1992, bà nội ông qua đời và không để lại di chúc. Mẹ của ông B. cũng mất năm 1992. Ông bà có bốn người con gồm ông H., ông B. và hai người khác.

Ông B. cho rằng sau khi bà nội qua đời, anh trai của ông là ông H. đã tự đứng ra kê khai toàn bộ diện tích đất theo chính sách giao đất của Nhà nước rồi được cấp giấy chứng nhận vào năm 1996. Đến năm 2011, ông H. tiếp tục được cấp giấy chứng nhận mới đối với thửa đất gần 800m2.

Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Theo ông B., việc ông H. đứng tên giấy chứng nhận không đồng nghĩa đây là tài sản riêng, bởi nguồn gốc đất là do bà nội để lại cho các đồng thừa kế. Vì vậy, ông yêu cầu tòa án chia phần di sản này cho cả bốn người cháu theo quy định của pháp luật.

Hai người anh em còn lại của ông B. đều đồng tình với yêu cầu của ông. Trong đó, một người còn đề nghị hủy giấy chứng nhận đã cấp cho hộ ông H. vì cho rằng việc cấp giấy chưa đảm bảo quyền lợi của các đồng thừa kế.

Ở chiều ngược lại, ông H. lại cho rằng khi còn sống, bà nội đã giao toàn bộ đất cho ông quản lý vì ông là cháu đích tôn. Ông H. cũng khẳng định bản thân đã bỏ nhiều công sức cải tạo, san lấp và gìn giữ khu đất suốt gần 30 năm nên không đồng ý chia thừa kế.

Cháu đích tôn được chia phần nhiều hơn

Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND TP Đà Nẵng nhận định khu đất có nguồn gốc do bà nội của các đương sự khai phá và sử dụng hợp pháp nên được xác định là di sản thừa kế chưa chia. Tòa chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông B., đồng thời xác định di sản được chia cho bốn người thừa kế theo pháp luật.

Theo bản án sơ thẩm, ông H. được nhận phần diện tích lớn hơn do có công quản lý và tôn tạo tài sản trong thời gian dài. Ba người còn lại, gồm ông B. và hai anh em khác được chia quyền sử dụng chung phần đất còn lại cùng tài sản trên đất.

Không đồng ý với phán quyết trên, cả ông B. và ông H. đều kháng cáo.

Ông H. cho rằng gia đình ông là người trực tiếp quản lý và tôn tạo khu đất suốt nhiều năm nên không đồng ý việc chia thừa kế như bản án sơ thẩm. Theo ông, vợ chồng ông đã bỏ nhiều công sức san lấp, nâng nền khu đất, kê khai, nộp thuế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp từ năm 1996.

Trong khi đó, ông B. tiếp tục yêu cầu giảm tỷ lệ công sức tôn tạo mà tòa sơ thẩm dành cho anh trai từ 30% xuống thấp hơn vì cho rằng mức này ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế khác.

Sau khi xem xét lại hiện trạng và đo đạc thực tế, TAND Cấp cao tại Đà Nẵng xác định bản án sơ thẩm có một số sai sót kỹ thuật như diện tích tường rào và phần đất nhà thờ tộc nên cần điều chỉnh lại số liệu chia đất.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khẳng định nguồn gốc khu đất vẫn là tài sản do bà nội của các đương sự khai phá và để lại cho các con cháu.

Tòa nhận định ông H. là người trực tiếp quản lý, gìn giữ và cải tạo khu đất suốt gần 30 năm nên việc được hưởng 30% giá trị di sản là phù hợp. Vì vậy, tòa bác kháng cáo của ông B. và chỉ chấp nhận một phần kháng cáo của ông H. để điều chỉnh lại diện tích thực tế khi phân chia.

Theo phán quyết cuối cùng, ông H. được sử dụng gần 470m2 đất cùng nhà cửa, công trình trên đất; phần diện tích còn lại hơn 301m2 được chia chung cho ông B. và hai người em.

(Tham khảo Bản án số 207/2020/DS-PT ngày 28/9/2020 của TAND Cấp cao tại Đà Nẵng)


Nguồn

Exit mobile version